Sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) phát tín hiệu sẽ duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài để kiềm chế lạm phát, đồng đô la Mỹ (USD) đã tăng lên mức cao nhất trong 20 năm so với các đồng tiền chủ chốt khác.
0:00 / 0:00
0:00
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Dù tiền đồng Việt Nam (VND) vẫn là một trong những đồng tiền ổn định nhất so với các đồng tiền trong khu vực, nhưng áp lực tỷ giá, lãi suất cao đang khiến các doanh nghiệp có cơ cấu nợ lớn bằng đồng USD phải đối mặt với rủi ro tăng chi phí lãi và lỗ tỷ giá khi đánh giá lại khoản vay.

Hàng loạt doanh nghiệp vay nợ USD lớn

Trong một báo cáo vừa phát hành của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDirect cho thấy, nhiều doanh nghiệp niêm yết đang có cơ cấu nợ vay bằng USD khá lớn, ở nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực bất động sản đa ngành, hàng không, xuất nhập khẩu, nhiệt điện…

Theo danh sách này, Tập đoàn Vingroup (mã: VIC) hiện là doanh nghiệp có dư nợ vay USD lớn nhất. Tính đến cuối quý 2/2022, tổng dư nợ vay (bao gồm vay ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng, trái phiếu) của Vingroup ghi nhận 166.588 tỷ đồng; trong đó khoảng 39,4% là vay bằng USD, tương đương 65.559 tỷ đồng quy đổi.

Trong cơ cấu các khoản vay bằng USD của Vingroup, một số khoản vay ngắn hạn có lãi suất cố định ở 4%/năm; đối với các khoản vay có tài sản đảm bảo và không có hợp đồng hoán đổi thì mức lãi suất thả nổi từ 0,91-5,53%/năm. Ngoài ra, một số khoản vay USD có hoán đổi có lãi suất cố định theo hợp đồng là 4,1 - 9,15%/năm.

Với mức tỷ giá tăng như hiện nay, khoản lỗ tỷ giá của Vingroup có thể lên tới hàng nghìn tỷ đồng trong quý 3/2022 và đây sẽ là khoản chi phí đáng kể đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thực tế, ngay từ quý 2/2022, Vingroup cũng đã ghi nhận khoản lỗ chênh lệch tỷ giá hơn 1.200 tỷ đồng (báo cáo tài chính hợp nhất), trong khi cùng kỳ năm ngoái chỉ lỗ 68 tỷ đồng.

Kế đến là Tổng công ty Phát điện 3 (mã: PGV) cũng có khoảng 36.868 tỷ đồng dư nợ vay bằng USD, chiếm 86,6% tổng dư nợ vay của doanh nghiệp. Các khoản vay này được PGV huy động để cấp vốn cho dự án Nhiệt điện Mông Dương với giá trị 23.360 tỷ đồng, lãi suất thả nổi Libor (lãi suất liên ngân hàng London) 6 tháng + biên độ; Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, gồm 3.800 tỷ đồng lãi suất 3,45%/năm và 9.600 tỷ đồng lãi suất Libor 6 tháng + 2,65%/năm.

Tại Vietnam Airlines (HVN) ghi nhận 21.815 tỷ đồng dư nợ vay bằng USD, trên tổng 32.888 tỷ đồng dư nợ, tương đương tỷ lệ 66,3%. Trong đó, lãi suất các khoản vay này phổ biến trong khoảng từ 2,99-4,53%/năm.

Tổng công ty Phát điện 2 (GE2) cũng có dư nợ vay USD vào khoảng 12.669 tỷ đồng quy đổi, chiếm 35,2% tổng dư nợ; trong đó, 6.116 tỷ đồng là vay với lãi suất thả nổi Libor 6 tháng + biên độ, còn lại được áp dụng lãi suất cố định.

Ngoài ra, các doanh nghiệp như Tập đoàn PC1 (PC1) 4.008 tỷ đồng quy đổi; Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (POW) vay 2.775 tỷ đồng; Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (MPC) 3.892 tỷ đồng; Nhiệt điện Quảng Ninh (QTP) 1.148 tỷ đồng; Dệt may Thành Công (TCM) 1.104 tỷ đồng… Đáng chú ý, trong danh sách này, Tổng công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí (PVD) và Nhiệt điện Hải Phòng (HND) có dư nợ vay 100% bằng USD, lần lượt là 3.904 tỷ đồng và 1.547 tỷ đồng.

Rủi ro kép về tăng lãi và lỗ tỷ giá

Áp lực lỗ tỷ giá đè nặng doanh nghiệp vay nợ lớn bằng USD ảnh 1

Ảnh minh họa

Theo TS Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Trường Đại học Kinh tế TP. HCM, với rủi ro tỷ giá và mặt bằng lãi suất toàn thế giới tăng cao như hiện nay, rất khó để doanh nghiệp tìm kiếm được dòng vốn giá rẻ từ nước ngoài. Bởi lẽ, các doanh nghiệp Việt Nam luôn phải huy động với chi phí cao hơn các quốc gia phát triển, do có độ rủi ro cao hơn (phần chênh lệch đó gọi là phần bù rủi ro) cộng với lại rủi ro trượt giá của VND.

“Các doanh nghiệp cần nhìn nhận thực tế là chúng ta đã trải qua thời kỳ tiền rẻ và bắt đầu bước sang thời kỳ tiền đắt, tức chi phí để có được tiền sẽ cao hơn rất nhiều. Do đó, cần đưa ra những chiến lược ứng phó cho phù hợp trong hoàn cảnh mới. Và với việc Fed vẫn giữ nguyên quan điểm thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát thì xu hướng tiền đắt trên toàn cầu sẽ được duy trì ít nhất là trong trung hạn”, TS Nguyễn Hữu Huân cho biết.

Đánh giá tác động về vấn đề này, các chuyên gia VNDirect cũng cho rằng, biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái và lãi suất đồng USD tăng cao sẽ làm gia tăng chi phí đối với những doanh nghiệp có cơ cấu nợ lớn bằng đồng USD. Tuy vậy, mức độ ảnh hưởng có sự khác biệt giữa hình thức trả lãi (lãi suất cố định hay lãi suất thả nổi) và kỳ hạn khoản vay (ngắn hạn hay dài hạn).

Đối với hình thức trả lãi, VNDirect cho rằng, những doanh nghiệp có khoản vay bằng đồng USD với lãi vay cố định hoặc thả nổi đều phải chịu áp lực tăng chi phí lãi vay và lỗ tỷ giá (đánh giá lại khoản vay), do ảnh hưởng bất lợi của biến động tỷ giá và lãi vay đồng USD.

Những doanh nghiệp có khoản vay USD với lãi suất cố định sẽ chịu áp lực gia tăng chi phí lãi vay và lỗ tỷ giá khi đánh lại giá trị khoản vay do tác động của tỷ giá. Đồng USD mạnh lên sẽ kéo theo việc giá trị của chi phi lãi vay lẫn giá trị nợ gốc đều sẽ tăng lên khi quy ra VND.

Trong khi đó, những doanh nghiệp sử dụng khoản vay USD với lãi suất thả nổi sẽ chịu áp lực lớn hơn những khoản vay có lãi suất cố định. Nguyên do là vì ngoài chịu tác động về tỷ giá lên chi phí lãi và nợ gốc, khoản vay thả nổi sẽ còn chịu thêm áp lực tăng chi phí lãi vay khi lãi suất khoản vay bằng đồng USD tăng lên do Fed thắt chặt chính sách tiền tệ.

“Đối với thời hạn trả lãi, những doanh nghiệp có tỷ trọng nợ vay ngắn hạn lớn sẽ bị tác động tiêu cực hơn. Fed với quan điểm “diều hâu” hơn về thắt chặt chính sách tiền tệ, sẽ gây ra áp lực lớn lên tỷ giá hối đoái, khiến cho giá trị các khoản vay ngắn hạn gia tăng về nợ gốc, gây ra những rủi ro về dòng tiền đối với doanh nghiệp khi phải xoay sở để trả nợ gốc và chi phí lãi vay”, báo cáo của VNDirect cho biết.

Hơn nữa, khi khoản nợ vay ngắn hạn này đáo hạn, khả năng cao doanh nghiệp sẽ phải vay mới với lãi suất cao hơn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh (gia tăng chi phí lãi vay).

Ngược lại, những doanh nghiệp có tỷ trọng cao khoản vay USD dài hạn sẽ chưa phải đối diện với việc đáo hạn nợ gốc. Tuy nhiên, biến động bất lợi của tỷ giá cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp này phải đánh giá lại khoản vay và ghi nhận lỗ kế toán trên báo cáo kết quả kinh doanh, cũng như gia tăng chi phí lãi vay.

Tuy nhiên, trong dài hạn, các chuyên gia của VNDirect cho rằng, những doanh nghiệp có tỷ trọng nợ vay dài hạn bằng đồng USD lớn có thể đỡ áp lực hơn, do áp lực tỷ giá có thể hạ nhiệt và VND tăng giá so với USD trong năm 2023.